Bản chất của vốn góp và cổ phần trong doanh nghiệp

Dòng tiền trong doanh nghiệp (khái niệm cơ bản)Phân tích cơ bảnQuản trị doanh nghiệpTài Chính

I. Phân biệt phần góp vốn và cổ phần 

Phần vốn góp là danh từ dùng cho công ty TNHH, cổ phần là để cho CTCP. Hai danh từ này nói về một giá trị ngang nhau về tài sản. Mà khi một người góp vốn vào hai loại công ty kia sẽ có những quyền lợi và nghĩa vụ như nhau đối với các hoạt động của công ty. 

Về cơ bản, vốn góp và cổ phần chỉ để phân biệt giữa công ty TNHHcông ty CP, còn về giá trị là ngang bằng. Giống như việc người góp vốn vào công ty TNHH sẽ không được gọi là cổ đông. Việc chuyển nhượng phần vốn góp của họ bị hạn chế và công ty TNHH không được có hơn 50 thành viên. Chính vì vậy mà phần góp vốn trong công ty TNHH không được coi là một hàng hóa dễ bán lại, chính vì thế mà phần này sẽ tập trung chủ yếu vào các loại cổ phần của công ty cổ phần. Nhưng tất nhiên sẽ có một số điểm mà trong luật, công ty TNHH cũng có. 

II. Đặc tính của cổ phần 

Cổ phần hay phần góp vốn (trong công ty cổ phần có nhiều loại để phân biệt hơn so với công ty TNHH) sẽ có một số đặc tính sau

A. Quyền và nghĩa vụ của người góp vốn

Cổ phần là một công cụ giúp công ty huy động vốn và khi mới thành lập nó là vốn điều lệ, số vốn này sẽ giúp công ty duy trì hoạt động kinh doanh khởi nghiệp. Khi ai mua cổ phần sẽ được cấp một giấy chứng nhận, quyền sở hữu, trong chứng khoán quyền sở hữu này tồn tại dưới dạng cổ phiếu. Khi cổ phiếu được bán ra công chúng, thì giá của nó sẽ lên xuống theo nhu cầu thị trường. 

Theo luật doanh nghiệp, cổ phiếu được chia làm hai loại chính: Cổ phiếu phổ thông và cổ phiếu ưu đãi. Đối với mỗi loại cổ phiếu sẽ có quyền hạn và nghĩa vụ khác nhau.

Bạn có thể đọc thêm về bài: Mệnh giá của cổ phần công ty và sự ra đời của cổ phiếu

Cổ phiếu phổ thông

  • Tham dự, phát biểu và biểu quyết trong các đại hội đồng cổ đông. Mỗi cổ phần phổ thông có một phiếu biểu quyết.
  • Được nhận cổ tức 
  • Được ưu tiên mua cổ phần mới chào bán tương ứng với tỷ lệ cổ phần đang nắm giữ
  • Được tự do chuyển nhượng cổ phần 
  • Xem xét, tra cứu và trích lục các thông tin trong danh sách cổ đông và yêu cầu sửa đổi các thông tin không chính xác.
  • Xem xét, tra cứu, trích lục hoặc sao chụp sổ biên bản họp đại hội đồng cổ đông và các nghị quyết của ĐHĐCĐ. 
  • Khi công ty giải thể hoặc phá sản, được công nhận một phần tài sản còn lại tương ứng với số cổ phần góp vốn vào công ty. 

Cổ phiếu, cổ phần ưu đãi

  • Các cổ đông nắm cổ phần ưu đãi ở ta không có quyền quản trị, do cổ phần này được ưu đãi về tiền.
  • Thanh toán đủ số cổ phần cam kết mua trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày công ty được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. 
  • Chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi vốn đã góp vào công ty.
  • Không được rút vốn đã góp bằng cổ phần ra khỏi công ty dưới mọi hình thức, trừ trường hợp được công ty mua lại hoặc người khác mua lại cổ phần.

B. Quy định đối với cổ đông sáng lập

  • Khi công ty có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, trong vòng 90 ngày các cổ đông sáng lập phải góp đủ 20% vốn điều lệ và sau đó phải báo cáo việc góp vốn cổ phần cho cơ quan đăng ký kinh doanh
  • Trong ba năm đầu, nếu họ không góp đủ vốn thì có thể gọi vốn của người khác.
  • Trong ba năm mà không gọi đủ vốn, thì họ phải đăng ký giảm vốn. 

III. Lợi và hại khi công ty phát hành cổ phiếu 

Các điểm lợi có thể kể tới như:

  • Không bị buộc phải trả tiền gì cho cổ đông, chừng nào kinh doanh không có lời lãi. 
  • Công ty có uy tín vì có vốn sẵn, nên dễ vay nợ.
  • Giá cổ phiếu sẽ tăng khi công ty làm ăn lời lãi, vì người đầu tư thích mua nó để tránh sự mất giá của đồng tiền. 

Tuy nhiên bên cạnh đấy sẽ có một số điểm bất lợi cơ bản

  • Quyền điều hành công ty bị chia sẻ và cổ đông có thể chuyển quyền đó cho người khác. Cổ đông sáng lập có thể mất quyền kiểm soát công ty lúc nào không hay, nếu nắm ít cổ phần. 
  • Lợi tức của công ty bị chia sẻ cho cổ đông. 

IV. Việc trả cổ tức 

Cổ tức là số tiền lời hàng năm của công ty sau khi đã đóng thuế, tức là lợi nhuận. Đối với loại tiền này, công ty có quyền tự do sử dụng. Sẽ có hai mục đích sử dụng cho loại tiền này

  • Công ty chia cho cổ đông theo phần vốn góp
  • Không chia cho ai và giữ lại làm quỹ cho công ty để, sử dụng cho công việc và dự án trong năm tới, đây gọi là tái đầu tư. 

Chiến lược tái đầu tư là một trong bốn sức đẩy lời lãi và phát triển của công ty. Nó sẽ giúp công ty bớt phải đi vay, nâng cao tính cạnh tranh, từ đó giúp công ty tăng trưởng. Tất nhiên, việc đánh giá một cổ phiếu có đáng đầu tư hay không, bạn có thể tham khảo thêm trong bài phân tích đầu tư trong chứng khoán.

Cách trả cổ tức

Có ba hình thức trả cổ tức cơ bản: 

1. Trả cổ tức bằng tiền 

Đây là phần hấp dẫn nhất của cổ phiếu phổ thông, lợi tức bằng tiền. Ta có thể ví dụ đơn giản, công ty X có giá cổ phiếu là 10.000. Trong năm công ty làm ăn lời lãi, tính theo mỗi cổ phần là 1.000. Vậy giá mỗi cổ phần vào cuối năm là 11.000. Công ty X quyết định chia cổ tức cho cổ đông là 600đ và giữ lại 400đ để tái đầu tư, và khi ấy giá cổ phiếu chỉ còn 10.400đ. 

2. Trả cổ tức bằng cổ phiếu

Khi kết thúc năm tài chính, thay vì trả cổ tức cho cổ đông bằng tiền mặt, công ty phát cho họ cổ phiếu. Số cổ phiếu đưa thêm được công bố theo tỉ lệ bách phân. Thí dụ công ty ích đưa ra thông báo chia cổ tức theo tỉ lệ 10:1, khi ấy ai nắm 10 cổ phần thì bây giờ sẽ thành 11 cổ phần. 

Khi chia thêm cho cổ đông như thế, công ty giữ lại số tiền lời đáng lẽ đã phải chia để đầu tư vào việc gì đó. Cũng có thể là do lợi tức trong năm bị giảm, công ty không chia cổ tức mà trả bằng cổ phần cho cổ đông vui. 

Lưu ý: Khi trả như thế là tăng vốn điều lệ nên phải được ĐHĐCĐ thông qua và có đủ tiền để làm, lấy từ lợi nhuận sau thuế trên báo cáo tài chính có xác nhận của kiểm toán.

3. Chẻ giá cổ phiếu hay tách cổ phiếu

Thay vì trả bằng cổ phiếu, công ty lấy giá trị hiện thời của một cổ phiếu chẻ nó ra thành hai hay ba phần để phát hành thêm. 

Ví dụ: Từ một cổ phiếu giá 10.000 công ty chẻ thành hai cái, mỗi cái 5.000. Khi chẻ giá cổ phiếu, công ty cũng không chia lãi bằng cổ tức mà dùng tiền ấy để đầu tư. Chẻ cổ phiếu và trả cổ tức bằng cổ phiếu có hiệu quả tài chính ý hệt nhau. 

Có một điểm khác, về việc chẻ cổ phiếu tăng vốn điều lệ chỉ cần làm dúng quy trình, chứ không yêu cầu về lợi nhuận kinh doanh của công ty.

  1. Việc bán cổ phiếu tăng vốn trên thị trường chứng khoán Việt Nam 

Mua cổ phiếu là để có cổ tức hay lãi vốn. Tức là mua một cái gì đó sẽ có sự thay đổi trong tương lai. Vì tính chất này, người ta đã chế ra những cách bán cổ phiếu ở những trạng thái khác nhau của nó. Còn về cách công ty bán cổ phiếu thì chỉ có một số cách sau:

  • Bán quyền mua, tức là mua trong ngắn hạn.
  • Hợp đồng chọn mua hoặc bán và chứng quyền, tức là quyền mua trong dài hạn. 
  • Bán trực tiếp trên thị trường chứng khoán

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *