Cách chia cổ tức và các loại cổ phiếu trong doanh nghiệp

Chứng khoánTài ChínhTìm hiểu đầu tư cổ phiếu

Cổ tức là số tiền lời hàng năm của công ty sau khi đã đóng thuế, tức là lợi nhuận. Đối với loại tiền này, công ty có quyền tự do sử dụng. Sẽ có hai mục đích sử dụng cho loại tiền này

  • Công ty chia cho cổ đông theo phần vốn góp
  • Không chia cho ai và giữ lại làm quỹ cho công ty để sử dụng cho công việc và dự án trong năm tới, đây gọi là tái đầu tư. 

Chiến lược tái đầu tư là một trong bốn sức đẩy lời lãi và phát triển của công ty. Nó sẽ giúp công ty bớt phải đi vay, nâng cao tính cạnh tranh, từ đó giúp công ty tăng trưởng. 

Các loại cổ phiếu trong doanh nghiệp

Theo luật doanh nghiệp, cổ phiếu được chia làm hai loại chính: Cổ phiếu phổ thông và cổ phiếu ưu đãi. Đối với mỗi loại cổ phiếu sẽ có quyền hạn và nghĩa vụ khác nhau

Cổ phiếu phổ thông

  • Tham dự, phát biểu và biểu quyết trong các đại hội đồng cổ đông. Mỗi cổ phần phổ thông có một phiếu biểu quyết.
  • Được nhận cổ tức 
  • Được ưu tiên mua cổ phần mới chào bán tương ứng với tỷ lệ cổ phần đang nắm giữ
  • Được tự do chuyển nhượng cổ phần 
  • Xem xét, tra cứu và trích lục các thông tin trong danh sách cổ đông và yêu cầu sửa đổi các thông tin không chính xác.
  • Xem xét, tra cứu, trích lục hoặc sao chụp sổ biên bản họp đại hội đồng cổ đông và các nghị quyết của ĐHĐCĐ. 
  • Khi công ty giải thể hoặc phá sản, được công nhận một phần tài sản còn lại tương ứng với số cổ phần góp vốn vào công ty. 

Cổ phiếu, cổ phần ưu đãi

  • Các cổ đông nắm cổ phần ưu đãi ở ta không có quyền quản trị, do cổ phần này được ưu đãi về tiền.
  • Thanh toán đủ số cổ phần cam kết mua trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày công ty được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. 
  • Chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi vốn đã góp vào công ty.
  • Không được rút vốn đã góp bằng cổ phần ra khỏi công ty dưới mọi hình thức, trừ trường hợp được công ty mua lại hoặc người khác mua lại cổ phần.

Cách trả cổ tức

Có ba hình thức trả cổ tức cơ bản: 

1. Trả cổ tức bằng tiền 

Đây là phần hấp dẫn nhất của cổ phiếu phổ thông, lợi tức bằng tiền. Ta có thể ví dụ đơn giản, công ty X có giá cổ phiếu là 10.000. Trong năm công ty làm ăn lời lãi, tính theo mỗi cổ phần là 1.000. Vậy giá mỗi cổ phần vào cuối năm là 11.000. Công ty X quyết định chia cổ tức cho cổ đông là 600đ và giữ lại 400đ để tái đầu tư, và khi ấy giá cổ phiếu chỉ còn 10.400đ. 

2. Trả cổ tức bằng cổ phiếu

Khi kết thúc năm tài chính, thay vì trả cổ tức cho cổ đông bằng tiền mặt, công ty phát cho họ cổ phiếu. Số cổ phiếu đưa thêm được công bố theo tỉ lệ bách phân. Thí dụ công ty ích đưa ra thông báo chia cổ tức theo tỉ lệ 10:1, khi ấy ai nắm 10 cổ phần thì bây giờ sẽ thành 11 cổ phần. 

Khi chia thêm cho cổ đông như thế, công ty giữ lại số tiền lời đáng lẽ đã phải chia để đầu tư vào việc gì đó. Cũng có thể là do lợi tức trong năm bị giảm, công ty không chia cổ tức mà trả bằng cổ phần cho cổ đông vui. 

Lưu ý: Khi trả như thế là tăng vốn điều lệ nên phải được ĐHĐCĐ thông qua và có đủ tiền để làm, lấy từ lợi nhuận sau thuế trên báo cáo tài chính có xác nhận của kiểm toán.

3. Chẻ giá cổ phiếu hay tách cổ phiếu

Thay vì trả bằng cổ phiếu, công ty lấy giá trị hiện thời của một cổ phiếu chẻ nó ra thành hai hay ba phần để phát hành thêm. 

Ví dụ: Từ một cổ phiếu giá 10.000 công ty chẻ thành hai cái, mỗi cái 5.000. Khi chẻ giá cổ phiếu, công ty cũng không chia lãi bằng cổ tức mà dùng tiền ấy để đầu tư. Chẻ cổ phiếu và trả cổ tức bằng cổ phiếu có hiệu quả tài chính ý hệt nhau. 

Có một điểm khác, về việc chẻ cổ phiếu tăng vốn điều lệ chỉ cần làm dúng quy trình, chứ không yêu cầu về lợi nhuận kinh doanh của công ty.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.