Mệnh giá của cổ phần công ty và sự ra đời của cổ phiếu

Chứng khoánDòng tiền trong doanh nghiệp (khái niệm cơ bản)Phân tích cơ bảnTài Chính

I. Mệnh giá là gì 

Mệnh giá là cách thức cổ đông góp vốn, và cũng là cơ sở cho chủ nợ nhìn vào để đòi nợ. Như tôi đã viết trong bài về khái niệm và các tính chất về vốn, đã có nhắc qua về hai tính chất cơ bản của vốn là vốn kinh doanh và vốn pháp định. 

Nói về góp vốn, công ty buộc phải góp vốn theo quy định của pháp luật, một số thì không. Đối với một số ngành nghề kinh doanh mà thiếu vốn có thể ảnh hưởng tới trật tự và trị an như bảo hiểm, ngân hàng… thì luật sẽ định ra số vốn pháp định, tức là số vốn tối thiểu phải có trước khi bắt đầu hoạt động kinh doanh. Còn đối với một số ngành khác, luật không đòi hỏi như thế. 

Sự hình thành ý niệm về mệnh giá 

Khi huy động vốn, người sáng lập sẽ mời những người khác ký vào hợp đồng góp vốn hoặc mua cổ phiếu. Những người ký vào hợp đồng đều cam kết góp vốn theo đúng những gì được cam kết, theo số tiền đã định, hay một tài sản nào đó và sẽ nhận được số cổ phiếu, cổ phần như là một tờ giấy chứng nhận từ công ty. 

Để làm được điều này, người sáng lập phải định ra được sự tương quan giữa số cổ phần nhận được và số tiền cổ đông bỏ ra. Chính điều này đã hình thành nên ý niệm về mệnh giá của cổ phiếu, cổ phần. 

Mệnh giá chỉ là con số, nên công ty muốn định ra thế nào cũng được. Điểm mấu chốt  là số tiền mà cổ đông phải bỏ vào công ty cho một số cổ phiếu nào đó. Để đảm bảo tính bình đẳng giữa các cổ đông. Và vô tình, nó cũng là con số mà các chủ nợ nhìn vào để ước tính tài sản công ty. 

Ý nghĩa của mệnh giá đối với các chủ nợ

Trường hợp này dành cho công ty mới thành lập và mới bắt đầu đi vào hoạt động. Không phù hợp với những công ty đã có thời gian hoạt động lâu.

  • Chiếu theo vốn góp của cổ đông vào công ty sẽ tương đương với mệnh giá của số cổ phiếu mà cổ động đã nhận. 
  • Công ty hết tiền, các chủ nợ không thu được nợ. Và cổ động không chịu trách nhiệm cho việc công ty không trả nợ được. Khi đó tòa sẽ buộc cổ đông phải trả cho chủ nợ số tiền mà họ thiếu của công ty. Cộng chung lại nó phải bằng với mệnh giá của tổng số cổ phiếu. 

Tất nhiên những điều này chỉ đúng khi công ty chưa đi vào các hoạt động kinh doanh. Vì thế mà trong luật doanh nghiệp có quy đinh: Công ty chỉ được trả cổ tức cho cổ đông khi công ty kinh doanh có lãi. Đã hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế và các nghĩa vụ tài chính khách theo quy định của pháp luật, và ngay khi trả hết số cổ tức đã định, công ty vẫn đảm bảo thanh toán đầu đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác đến hạn phải trả.

II. Những biến đổi của mệnh giá và sự ra đời của cổ phiếu

Khi công ty đi vào hoạt động lâu rồi, thì mệnh giá sẽ không phải là con số như đã định ban đầu. Và khi này, tài sản của công ty là số vốn cổ đông góp không còn ý nghĩa nữa. Thay vào đó là các tài sản cố định, tài sản lưu động, thị phần, thương hiệu… hoặc theo nguồn vốn dự án.

Cổ phiếu khi được bán trên thị trường có thể có một giá cao hơn hay thấp hơn mệnh giá. Ở đây, giá và mệnh giá đã có sự tách biệt. Giả sử, mệnh giá ở các công ty khi niêm yết trên sàn chứng khoán là 10.000, nhưng nó được bán với giá 30.000 vẫn có người mua. Thì giữa những người mua với nhau không có gì khác biệt, vì tất cả họ đều trả 30.000. Tính chất bình đẳng về góp vốn vẫn còn, dù mệnh giá thay đổi. 

Việc coi mệnh giá, và tiền vốn như là số tiền để trả nợ chưa được nhìn nhận rõ ràng ở ta. Vì trong luật doanh nghiệp chỉ đề cập tới “vốn điều lệ” và “vốn pháp định”. Chứ không có quy định trị giá của mệnh giá, trừ trường hợp công ty lên sàn chứng khoán.  

Bạn có thể tìm hiểu thêm về: Bản chất của vốn góp và cổ phần trong doanh nghiệp để hiểu hơn về cách sử dụng đồng vốn và huy động vốn và chi trả cổ tức trong doanh nghiệp.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *