Phân tích kỹ thuật trên thị trường tài chính – Phần 1

Phân tích kỹ thuật

Phân tích kỹ thuật là một trong nhiều phương pháp giúp nhà đầu tư đưa ra các nhận định về giá của cổ phiếu, trái phiếu, tiền tệ trong tương lai. Cũng như phân tích cơ bản, đây là phương pháp phổ biến nhất được nhà đầu tư lựa chọn. Phương pháp này tập trung vào việc tìm kiếm xu hướng trên thị trường, hay còn được gọi là sở thích của thị trường. Còn đối với phân tích cơ bản là nơi nhà đầu tư nghiên cứu kỹ lưỡng về một vài công ty.

I. Phân tích kỹ thuật là gì?

Phân tích kỹ thuật được hiểu đơn giản nhất là phân tích chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu, tiền tệ, hàng hóa) để dự báo hướng đi của giá thông qua việc phân tích dữ liệu trong quá khứ. Phương pháp này chủ yếu bao gồm: phân tích giá, khối lượng và hành vi mua bán. 

Các dữ liệu được trực quan hóa bằng các biểu đồ cổ phiếu. Theo thời gian, các biểu đồ này sẽ truyền tải một thông điệp nhất định. Công việc của một nhà phân tích kỹ thuật là xác định mô hình và phát triển quan điểm dựa trên mô hình đó. 

Giống như tất cả các phương pháp nghiên cứu nào, phân tích kỹ thuật cũng bắt đầu bằng các giả định. Là một người giao dịch theo phương pháp này, nhà đầu tư cần dựa theo những giả định để giao dịch từ đó rút ra các kết luận cho bản thân. 

II. Lịch sử hình thành trường phái phân tích kỹ thuật

Phân tích kỹ thuật được bắt nguồn cách đây hơn 100 năm, được một người có tên Charles Dow khởi xướng. Ông là người sáng lập ra tạp chí phố Wall. Sau đó, công trình nghiên cứu của ông được William Peter Hamilton đưa lên một tầm cao mới bằng cuốn The Stock Market Barometer vào năm 1922. 

Tiếp theo đó, từ những năm 1920-1930 Richard W. Schabacker đã đi sâu vào các nghiên cứu của Dow và Hamilton để đưa ra các khái niệm đầu tiên về phân tích kỹ thuật. Ông cũng từng là chủ biên của tạp chí Forbes nổi tiếng. Ông đã chỉ ra những dấu hiệu trong lý thuyết Dow về chỉ số bình quân của thị trường và tầm quan trọng khi áp dụng chỉ số bình quân vào từng cổ phiếu riêng lẻ. Tất cả điều này đã được thể hiện qua các cuốn: Stock Market Theory And Practice, Technical Market Analysis và Stock Market Profit. 

Tiếp sau đó phải kể đến các tên tuổi gạo cội của phân tích kỹ thuật hiện đại như: Edward, Magee, John Murphy, Jack Schwager, Martin Pring… Những đóng góp của họ đã đã giúp hình thành một hệ thống lý luận quan trọng của phân tích kỹ thuật trên thị trường tài chính. 

III. So sánh với phân tích cơ bản 

Phân tích cơ bản sẽ tập chung vào các vấn đề cốt lõi như: Phân tích mối quan hệ kinh tế vi mô và vĩ mô, chính sách tiền tệ, dữ liệu kinh tế, báo cáo hàng năm, chất lượng quản lý…

Thì phân tích kỹ thuật được cho là tiếp cận thị trường tốt hơn. 

Theo quan điểm cá nhân tôi, thì phân tích kỹ thuật là phương pháp nên học đầu tiên. Phương pháp này có thể áp dụng vào tất cả biểu đồ giá của các sản phẩm tài chính. Do phương pháp này thiên về phân tích lịch sử của giá, khối lượng và động lực thị trường chung. Hay nói cách khác, đầy là phương pháp học một lần dùng cả đời và không đòi hỏi nhiều như phân tích cơ bản. Tuy vậy thì mỗi nhà đầu tư sẽ có cách tiếp cận khác nhau, nên không thể so sánh phương pháp nào là tốt hơn. 

IV. Ứng dụng phân tích kỹ thuật

Phân tích kỹ thuật được biết tới là một phương pháp linh hoạt, có thể áp dụng trên bất kỳ loại tài sản nào miễn là có dữ liệu lịch sử. Các dữ liệu liên quan tới giá bao gồm: mở cửa, cao, thấp, đóng cửa, khối lượng…

Có thể hiểu, khi bạn học bằng C ô tô, bạn có thể lái bất kỳ loại xe nào theo đúng nghĩa đen. 

V. Các kỳ vọng đối với phân tích kỹ thuật

Thông thường, các nhà đầu tư tham gia thị trường lựa chọn phân tích kỹ thuật như một cách nhanh chóng và dễ dàng nhất để kiếm lợi nhuận trên thị trường. Nếu được thực hiện với kỷ luật, nhà đầu tư có thể đạt được thành công, đồng thời cũng cần rất nhiều nỗ lực. 

Ngược lại, thảm họa chắc chắn sẽ xảy ra khi nhà đầu tư tiếp cận phương pháp này mà không có bất kỳ tính kỷ luật và kiến thức đầy đủ nào. Do đó, trước khi bắt đầu nghiên cứu sâu hơn, nhà đầu tư cần phải đặt ra các kỳ vọng về những gì có thể đạt được và không thể đạt được với phân tích kỹ thuật. 

5.1 Trong giao dịch

Phân tích kỹ thuật (TA), sử dụng tốt nhất để xác định các giao dịch ngắn hạn. Không sử dụng TA trong phân tích, xác định các cơ hội đầu tư dài hạn. Cơ hội đầu tư dài hạn được xác định tốt nhất bằng phân tích cơ bản (FA). 

5.2 Lợi nhuận trên mỗi giao dịch

Các giao dịch dựa trên TA thường có tính chất ngắn hạn. Nên đối với những mong đợi về lợi nhuận khổng lồ thường đi kèm với việc sử dụng đòn bẩy tài chính lớn (hình thức thế chấp và vay nợ), hoặc những cổ phiếu có cung – cầu không thực, không phản ánh đúng bản chất kinh tế thị trường. Nên đối với giao dịch theo TA là xác định các cơ hội giao dịch ngắn hạn thường xuyên có thể mang lại lợi nhuận nhỏ, nhưng có tính nhất quán cao. 

5.3 Thời gian nắm giữ

Các giao dịch dựa trên TA có thể kéo dài trong vài phút hoặc vài tuần, đôi khi là vài tháng và không xa hơn thế. Đối vấn đề này, chúng ta sẽ có các cuộc thảo luận khác chi tiết hơn. 

5.4 Rủi ro

Thường thì các nhà giao dịch khi bắt đầu các giao dịch đều với mục đích là lợi nhuận. Tuy nhiên trong các trường hợp cổ phiếu có biến động bất lợi, phát sinh khoản lỗ. Thông thường trong tình huống đấy, đặc biệt với nhà giao dịch mới thường ôm các khoản lỗ và giữ hy vọng về khả năng phục hồi. Hãy nhớ rằng, các giao dịch dựa trên TA là ngắn hạn, trong các trường hợp giao dịch trở nên khó khăn thì hãy nhớ lại các kỳ vọng ban đầu khi mua cổ phiếu. 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *