Quỹ đầu tư là gì? Các loại hình đầu tư quỹ

BlogChứng khoánDịch vụ tài chínhQuỹ đầu tư

Quỹ đầu tư là phương tiện đầu tư tập thể được hình thành thông qua việc huy động, tập hợp nhiều nguồn vốn nhỏ thành một nguồn vốn lớn và được ủy thác cho các nhà quản lý vốn chuyên nghiệp thực hiện việc đầu tư vào các loại chứng khoán là chủ yếu, nhằm mang lại lợi nhuận cao nhất cho những người góp vốn. 

Đây là một dạng định chế tài chính trung gian phi ngân hàng, nhằm thu hút tiền nhàn rỗi từ các nguồn khác nhau để đầu tư vào cổ phiếu, trái phiếu, tiền tệ hay các loại tài sản khác. Tất cả các khoản đầu tư đều được quản lý chuyên nghiệp và chặt chẽ bởi công ty quản lý quỹ, ngân hàng giám sát và cơ quan thẩm quyền khác. 

Đặc điểm của quỹ đầu tư

Quỹ đầu tư có 3 đặc điểm sau: 

  • Quỹ đầu tư chủ yếu là quỹ đầu tư chứng khoán 
  • Quỹ thường ít tham gia điều hành doanh nghiệp mà nó đầu tư 
  • Mục đích là thu lợi nhuận từ hoạt động đầu tư

I. Các bên tham gia vào quỹ đầu tư

1. Người đầu tư

Người tham gia đầu tư được hiểu là người góp vốn vào quỹ đầu tư bằng cách mua chứng chỉ hay cổ phần của quỹ. Họ có quyền được chia cổ tức và các thu nhập khác từ hoạt động đầu tư của quỹ theo tỷ lệ vốn góp hoặc theo thỏa thuận với công ty quản lý quỹ. Tùy theo tính chất của từng loại quỹ đầu tư mà người đầu tư có thể yêu cầu quỹ mua lại chứng chỉ quỹ trong thời hạn hoạt động của quỹ. Khi hết thời hạn hoạt động, người đầu tư sẽ được hoàn trả vốn. 

2. Hội đồng quản trị quỹ

Hội đồng quản trị quỹ tương tự như hội đồng quản trị của một công ty cổ phần thông thường, nó chỉ tồn tại khi được hội đồng cổ đông bầu lên. Hội đồng quản trị sẽ đại diện cho cổ đông để xây dựng chính sách đầu tư và giám sát hoạt động của quỹ, có quyền cao nhất đối với quỹ. 

3. Công ty quản lý quỹ

Là công ty chịu trách nhiệm quản lý hoạt động đầu tư của quỹ, thực chất là quản lý danh mục đầu chứng khoán theo mục tiêu đầu tư đã được định trước, thường được ghi rõ trong bản cáo bạch phát hành và điều lệ của quỹ. Hàng ngày công ty sẽ xác định giá trị tài sản trong danh mục đầu tư hoặc giá trị tài sản ròng trên mỗi cổ phần. 

Lưu ý: Công ty quản lý quỹ không phải là thành viên của sở giao dịch chứng khoán, việc mua bán chứng khoán của quỹ phải thông qua các công ty chứng khoán. 

4. Các chuyên gia đầu tư

Các chuyên gia đầu tư hay các nhà đầu tư là người có trách nhiệm lựa chọn danh mục đầu tư thích hợp theo chính sách và mục tiêu đầu tư của quỹ. Các chuyên gia sẽ nghiên cứu, phân tích tài chính và xu hướng kinh tế để đưa ra các quyết định đầu tư thích hợp theo từng giai đoạn. Ngoài ra họ có thể là người thực hiện việc chuyển lệnh mua bán chứng khoán tới Sở giao dịch nếu được ủy thác. Họ được thanh toán theo hợp đồng được ký kết với quỹ đầu tư. 

5. Các tổ chức bảo quản và giám sát tài sản của Quỹ

Một ngân hàng, công ty tín thác hoặc các tổ chức đủ tiêu chuẩn sẽ được thuê làm người bảo quản tài sản của quỹ (tiền mặt, chứng khoán…). Tổ chức này thường là một ngân hàng vì các ngân hàng có sẵn cơ sở vật chất kỹ thuật cho việc giữ và bảo quản tài sản cũng như có một hệ thống thanh toán, thu chi chuyên nghiệp. Các tổ chức bảo quản tài sản chỉ chịu trách nhiệm bảo quản sự an toàn tài sản cho quỹ, định giá tài sản và theo dõi sự biến động của tài sản. Trong mô hình tín thác, các tổ chức bảo quản tài sản còn chịu trách nhiệm giám sát các hoạt động của quỹ để đảm bảo quyền lợi cho nhà đầu tư. 

II. Các lợi ích cơ bản khi tham gia quỹ đầu tư

Khi tham gia quỹ đầu tư có ba lợi ích cơ bản

1. Đa dạng hóa danh mục đầu tư

Đầu tư vào quỹ đầu tư đồng nghĩa với việc mở rộng rổ cổ phiếu trong danh mục đầu tư. Thông thường một quỹ đầu tư thường có danh mục đầu từ từ 10 cho tới hàng trăm cổ phiếu trong danh mục đầu tư. Điều này đồng nghĩa với việc phân tan rủi ro, giúp duy trì sự tăng trưởng tốt ngay cả khi một vài loại cổ phiếu trong danh mục bị giảm giá. 

2. Quản lý đầu tư chuyên nghiệp 

Các quỹ đầu tư được quản lý bởi các chuyên gia có kỹ năng và giàu kinh nghiệm, người được lựa chọn được căn cứ vào tổng lợi nhuận họ làm ra. Những chuyên gia không tạo ra lợi nhuận sẽ bị thay thế. Chính vì thế mà một quỹ đầu tư tốt là một quỹ có những nhà quản lý, các đội quản lý có thành tích tốt trong việc tạo ra lợi nhuận đầu tư. 

3. Chi phí hoạt động thấp 

Do các quỹ đầu tư có danh mục đầu tư được quản lý bởi những nhà quản lý chuyên nghiệp nên chi phí hoa hồng sẽ thấp hơn cá nhân. Khi chi phí giao dịch thấp sẽ làm tăng tính hiệu quả của hoạt động đầu tư. 

III. Các loại quỹ đầu tư

Có 3 hình thức phân loại quỹ đầu tư mà nhà đầu tư cần biết 

1. Dựa theo nguồn vốn huy động 

Quỹ đầu tư tập thể 

Quỹ đầu tư tập thể là quỹ huy động vốn bằng cách phát hành rộng rãi ra công chúng. Những người đầu tư vào quỹ có thể là cá nhân, tổ chức kinh tế, phổ biến cho hình thức đầu tư này đều là những nhà đầu tư riêng lẻ, ít am hiểu về thị trường chứng khoán. Quỹ đầu tư tập thể cung cấp cho nhà đầu tư phương tiện đầu tư hiệu quả, giảm thiểu rủi ro nhờ tính chuyên nghiệp cao, bên cạnh đó là chi phí thấp.

Quỹ đầu tư cá nhân

Khác với quỹ đầu tư tập thể, quỹ đầu tư cá nhân huy động vốn bằng cách phát hành riêng lẻ cho một nhóm nhỏ các nhà đầu tư. Các nhà đầu tư thường đầu tư lượng vốn tương đối lớn và họ sẽ yêu cầu rất cao đối với quản lý quỹ. Họ chấp nhận khả năng thanh khoản thấp hơn so với hình thức đầu tư tập thể, nhưng bù vào đó là khả năng kiểm soát sẽ cao hơn. 

Một điểm khác biệt nữa, là các nhà quản lý quỹ đầu tư cá nhân thường là thành viên hội đồng quản trị của công ty nhận đầu tư. 

2. Dựa vào cấu trúc nguồn vốn 

Quỹ đầu tư dạng đóng

Quỹ chỉ phát hành cổ phiếu và chứng chỉ đầu tư ra công chúng một lần với số lượng nhất định và không thực hiện việc mua lại cổ phiếu và chứng chỉ khi nhà đầu tư có nhu cầu bán lại. Sau khi được phát hành, chứng chỉ quỹ lưu hành dưới dạng cổ phiếu và được giao dịch trên thị trường thứ cấp.

Đặc điểm

  • Quỹ đóng chỉ gọi vốn qua một lần bán cổ phần chứng khoán ra công chúng, với số lượng nhất định. 
  • Quỹ đóng có thể phát hành cổ phiếu thường, cổ phiếu ưu đãi và trái phiếu. 
  • Giá của cổ phiếu quỹ sẽ được quyết định bởi cung cầu trên thị trường. 
  • Người tham gia chỉ có thể thu hồi lại vốn thông qua mua bán trên thị trường thứ cấp. 
  • Quỹ đóng thường có vốn lớn và ổn định nên sẽ có khả năng đầu tư vào các dự án lớn và các cổ phiếu có tính thanh khoản thấp so với quỹ đầu tư dạng mở. 
  • Về cơ bản: quy mô vốn của quỹ đầu tư dạng đóng chỉ có thể tăng lên từ các khoản lợi nhuận thu được: Quỹ dùng số vốn để đầu tư vào doanh nghiệp hoặc thị trường chứng khoán, sau đó dùng số tiền và vốn lãi thu được để đầu tư tiếp.

Quỹ đầu tư dạng mở

Quỹ đầu tư dạng mở sẽ liên tục phát hành cổ phần và chứng chỉ quỹ ra công chúng, đồng thời cũng thực hiện việc mua lại khi nhà đầu tư có nhu cầu rút vốn. Đặc điểm quan trọng của quỹ đầu tư dạng mở là giá cổ phiếu luôn gắn trực tiếp với giá trị tài sản thuần của quỹ. Cổ phần và chứng chỉ của quỹ đầu tư dạng mở không giao dịch trên thị trường thứ cấp mà thông qua đại lý ủy quyền hoặc trực tiếp với quỹ. 

Đặc điểm nổi bật:

  • Giá bán cổ phần quỹ = Giá trị tài sản ròng (NAV) + Khoản phí mua.
  • Mua lại = Giá trị tài sản ròng (NAV) – Khoản phí theo quy định. 
  • Các nhà đầu tư có thể rút vốn bất cứ lúc nào. 
  • Các quỹ đầu tư tính phí mua bán bằng cách cộng trừ một tỷ lệ phí vào giá mua và bán được quy định trong điều lệ quỹ, và gọi là quỹ tính phí. Quỹ không tính phí mua bán được gọi là quỹ không tính phí. 

3. Dựa vào cơ cấu tổ chức và hoạt động của quỹ

Quỹ đầu tư dạng công ty 

Đối với mô hình này, quỹ đầu tư là một pháp nhân theo quy định của nhà nước. Nhà đầu tư góp vốn sẽ bầu ra hội đồng quản trị, các tổ chức tham gia vào cơ cấu hoạt động của quỹ đầu tư bao gồm công ty quản lý quỹ và ngân hàng. 

Đối với quỹ đầu tư dạng công ty, công ty quản lý quỹ hoạt động như một nhà tư vấn đầu tư do hội đồng quản trị thuê để quản lý đầu tư. Các công ty quản lý có đội ngũ quản lý chuyên nghiệp, giàu kinh nghiệm. 

Ngoài các tổ chức được nêu ở trên, sẽ có các đại lý chuyển nhượng hoặc nhà đầu tư bảo lãnh phát hành chính tham gia vào hoạt động của quỹ. Đại lý ủy nhiệm thường được ủy quyền mua hoặc bán lại cổ phần của quỹ, họ sẽ giúp phân phối cổ phần quỹ cho các nhà đầu tư. 

Quỹ đầu tư dạng hợp đồng 

Quỹ đầu tư dạng hợp đồng, hay còn gọi là quỹ tín thác đầu tư và đây không phải là một pháp nhân. Quỹ được hình thành nhờ sự đóng góp của các nhà đầu tư dựa trên hợp đồng góp vốn. Mô hình thể hiện rõ vai trò của ba nên tham gia bao gồm: 

Công ty quản lý quỹ đứng ra thành lập quỹ, tiến hành huy động vốn, thực hiện việc đầu tư theo mục tiêu đã đề ra trong điều lệ quỹ. 

Nhân hàng đóng vai trò giám sát và bảo quản vốn và tài sản của quỹ, đồng thời theo dõi các hoạt động của công ty quản lý quỹ để đảm bảo tính minh bạch trong mục tiêu và chính sách đã đề ra. Quan hệ giữa công ty quản lý quỹ và ngân hàng giám sát, bảo quản được thực hiện bằng hợp đồng trong đó có quy định về quyền lợi và nghĩa vụ của hai bên trong việc giám sát thực hiện việc đầu tư để đảm bảo quyền lợi của các nhà đầu tư. 

Người đầu tư là người góp vốn vào quỹ và ủy thác việc đầu tư cho công ty quản lý quỹ, nhằm đảm bảo khả năng sinh lời trên đồng vốn góp. Việc góp vốn đầu tư được thực hiện bằng việc mua chứng chỉ đầu tư do công ty quản lý quỹ thay mặt quỹ phát hành. Các nhà đầu tư trong mô hình này không phải là cổ đông mà chỉ là người thụ hưởng kết quả từ hoạt động đầu tư của quỹ. 

IV. Nguyên tắc hoạt động của quỹ đầu tư 

1. Nguyên tắc huy động vốn 

Việc huy động vốn của quỹ đầu tư thông qua phát hành cổ phần và chứng chỉ quỹ, tuy nhiên các quỹ chỉ được phát hành dưới một một số loại nhất định để thuận lợi cho việc quản lý, cũng như hoạt động đầu tư của nhà đầu tư. Do vậy, nguyên tắc chung là quỹ chỉ phát hành cổ phiếu đối với mô hình công ty quỹ và chứng chỉ quỹ đối với quỹ tín thác. Ngoài ra quỹ không được phát hành trái phiếu hay đi vay vốn để đầu tư. Quỹ chỉ được phép vay vốn ngắn hạn để trang trải các chi phí tạm thời ngắn hạn. 

2. Nguyên tắc bảo quản tài sản và giám sát hoạt động của quỹ

Tài sản của quỹ được kiểm soát bởi một tổ chức bảo quản tài sản, tổ chức này sẽ chịu trách nhiệm bảo vệ quyền lợi đối với tài sản của các nhà đầu tư. Thông thường tổ chức bảo quản tài sản là ngân hàng. 

3. Nguyên tắc định giá phát hành và mua lại chứng chỉ quỹ

Khi nhà đầu tư quyết định đầu tư hoặc rút vốn của họ từ một quỹ, việc xác định giá phải dựa trên nguyên tắc công bằng và cụ thể được pháp luật quy định. Điều này được thể hiện qua cách xác định giá trị tài sản của quỹ khi mua chứng chỉ quỹ. 

4. Nguyên tắc cung cấp thông tin tới nhà đầu tư

Việc cung cấp thông tin phải tuân thủ các quy định của cơ quan quản lý nhà nước, nhằm tạo sự thống nhất tránh gây hiểu lầm cho nhà đầu tư

Việc cung cấp thông tin vừa giúp tạo cơ hội thu hút vốn cho quỹ, đồng thời cũng góp phần bảo vệ quyền lợi của người đầu tư. 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.