Xã hội internet và văn hóa Việt Nam

Blog

Năm 1978, năm cuốn sách “The Network Nation” xuất bản, có thể được xem là mốc đánh dấu điểm khởi đầu của các hoạt động nghiên cứu chính thức về xã hội và văn hóa Internet. Kể từ năm 1990, sự phổ biến nhanh chóng của Internet đã bắt đầu thu hút sự chú ý nhiều hơn của các nhà khoa học xã hội và nhân văn chuyên ngành, đặc biệt là giới nghiên cứu truyền thông.

Internet đã được gọi là “siêu phương tiện truyền thông”

Sự thay đổi quan trọng mà Internet đem lại cho đời sống văn hóa nhân loại là Internet đã thúc đẩy phát triển việc phân phối tri thức theo mô hình đa phương – đồng đẳng, chứ không phải chỉ phân phối tri thức theo mô hình định tuyến – phân tầng theo các thế hệ tri thức như trước.

Internet cũng trở thành “kênh phân phối” các giá trị và sản phẩm văn hoá. Sách báo, âm nhạc, hội hoạ, điện ảnh, văn chương,… đều đã được “phân phối” đến người thưởng thức thông qua Internet. Thậm chí Internet đang có xu hướng trở thành  “kênh phân phối chính” với một số trường hợp, tiêu biểu là âm nhạc và điện ảnh.

Khả năng hội tụ công nghệ của Internet cũng đã tạo ra một kịch bản mới về truyền thông văn hóa – đó là truyền thông đa phương tiện (multimedia). Các giá trị văn hóa trước đây vốn phụ thuộc rất nhiều vào các dạng phương tiện vật chất mang chứa chúng, thì giờ đây đều có khả năng hội tụ qua kịch bản số hóa và dễ dàng được chia sẻ trên Internet.

Một khía cạnh khác về vai trò cung cấp và phân phối các giá trị văn hóa của Internet là sự khởi động xu thế “văn hóa miễn phí” trên môi trường Internet. Đó là một xu thế của xã hội Internet ủng hộ và thúc đẩy sự tự do phân phối và sửa đổi các công trình sáng tạo dưới hình thức của “nội dung miễn phí” thông qua Internet. Nhờ Internet mà việc trao đổi thông tin trở nên hết sức thuận tiện, đặc biệt là khi Internet trở thành môi trường hội tụ các công nghệ truyền thông khác nhau, hoạt động trao đổi văn hoá giữa các nhóm người, giữa các dân tộc, quốc gia cũng được thúc đẩy. Internet là nhân tố làm cho bức tranh toàn cầu hoá về văn hoá trở thành hiện thực.

Internet có ba nhân tố quan trọng góp phần thúc đẩy nhiều thể nghiệm mới. Nhân tố đầu tiên là không gian tiếp xúc và giao lưu văn hoá toàn cầu của Internet. Nhân tố thứ hai là giới trẻ – chủ thể chính của xã hội Internet, nhóm xã hội có động lực mạnh mẽ và năng lượng bền bỉ trong việc tìm tòi các thể nghiệm của cuộc sống. Nhân tố thứ ba là công nghệ kỹ thuật số. Internet là môi trường hội tụ của công nghệ này chứa đựng nhiều khả năng và động lực cấp tiến nhất. Kỹ thuật số trên thực tế đang tạo ra một “nền văn minh” mới. Kỹ thuật số không đơn giản là cho phép đem đến những sản phẩm kỹ thuật mới, mà còn bổ sung một thay đổi về cơ bản cách thức con người sản xuất ra các giá trị, đặc biệt là các giá trị vật chất của con người.

1. Khái niệm Văn hóa Internet

Văn hoá cần được định nghĩa dưới nhiều góc độ. Chỉ với cách đó mới có thể khái quát hết bản chất đa diện và đa dạng của nó. Định nghĩa kiểu miêu tả kinh điển nhất về văn hoá được nhắc đến nhiều là của Edward B. Tylor (1832-1917), mô tả bao quát văn hoá như một tổng thể phức hợp những gì mà con người thu nhận được với tư cách là một thành viên xã hội. Edward Sapir (1884-1939) và những người cùng có cách nhìn lịch sử định nghĩa văn hoá như là một hệ thống phức hợp của quan điểm, tập quán và cách ứng xử mà con người bảo tồn được theo truyền thống. Các định nghĩa văn hoá từ góc độ tâm lý học thường nhấn mạnh vào quá trình thích nghi với môi trường mà qua đó con người hình thành thói quen và ứng xử. Văn hoá theo góc nhìn đó, là tổng thể những thích nghi của con người với các điều kiện sinh sống. Kiểu định nghĩa nguồn gốc về văn hoá thường tập trung vào việc nhận diện văn hoá như là kết quả của quá trình sáng tạo hay cải biến thế giới xung quanh bởi con người và có tác động trở lại chính con người. Kiểu định nghĩa cấu trúc về văn hoá tập trung vào việc nhận diện và phân xuất các thành tố của văn hoá, được xem là một hệ thống có cấu trúc xác định. Ngoài ra, còn có những định nghĩa xem văn hoá là các giá trị vật chất và tinh thần của các cộng đồng hay xem văn hoá như là một tập hợp các đặc trưng nhiều mặt của một xã hội hay một cộng đồng. Trần Ngọc Thêm định nghĩa “văn hoá là một hệ thống hữu cơ của các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội của mình”. Cách định nghĩa này thừa nhận văn hoá như là một hệ giá trị con người được sáng tạo và tích luỹ qua thời gian. Những từ khoá “con người”, “môi trường”, “quá trình”, theo Trần Ngọc Thêm, cũng giúp xác định mối quan hệ giữa văn hoá với một hệ tham số mà ông gọi là hệ toạ độ ba chiều Chủ thể – Không gian – Thời gian (C-K-T). Với cách tiếp cận hệ thống – cấu trúc, Trần Ngọc Thêm còn phân xuất các thành phần của một hệ thống văn hoá với các bộ phận như: văn hoá nhận thức – văn hoá tổ chức cộng đồng – văn hoá ứng xử với môi trường tự nhiên – văn hoá ứng xử với môi trường xã hội.

Văn hoá Internet có thể được hiểu một cách đơn giản là những vấn đề văn hoá của con người với tư cách là người dùng Internet có “đời sống” trên môi trường mạng Internet. Đây là một bộ phận mới của nền văn hoá nhân loại nổi lên từ việc con người sử dụng mạng máy tính để giao tiếp – giải trí – làm việc, phát triển gắn liền với Internet và các hình thức mới khác của mạng lưới truyền thông hiện đại (mạng điện thoại di động, wifi-3G,…).

Trong giới nghiên cứu Internet, khái niệm “văn hoá Internet” (Internet culture) thường được quy về khái niệm “văn hoá ảo” (cyberculture). Theo đó, những bộ phận chính cần quan tâm trong lĩnh vực này là văn hoá của các cộng đồng trực tuyến (online community), game online (online multi-player gaming), truyền thông xã hội (social media), thực tại ảo (vitual reality – VR), thực tại tương tác (augmented reality – AR), văn hoá nhắn tin và những vấn đề liên quan đến nhân thân (identity) và riêng tư (privacy) trên môi trường ảo.

2. Văn hóa thể hiện bản thân

Văn hóa cá nhân được hiểu là những gì liên quan đến nhận thức về giá trị bản thân, hoạt động và tương tác của cá nhân, là lối sống, phong cách và giá trị riêng của cá nhân trong đời sống, là cách lựa chọn các giá trị văn hóa chung để mỗi cá nhân tham gia vào đó. Một khía cạnh khác, cực đoan, về văn hóa cá nhân, liên quan đến sự trỗi dậy của Cái Tôi, Cái Cá nhân trong tương quan với những gì được xem là Cái Chung, Cái Tập thể.

Internet “kiến tạo lãnh địa” để mọi cái Tôi cá nhân vượt qua các rào cản văn hóa hiện hữu và tự thể hiện bản thân một cách tự do. Internet đang khiến nền văn hóa Việt Nam vốn thiên về “tập thể chủ nghĩa” chuyển dịch ngày càng nhanh về phía “cá nhân chủ nghĩa”. Trước hết, Internet và sự phát triển công nghệ đã “vũ trang” cho các cá nhân những “vũ khí” lợi hại để sáng tác, trong đó bao gồm cả sáng tác về chính cá nhân mình, và xuất bản những sáng tác ấy lên môi trường Internet một cách hết sức dễ dàng.

3. Lối sống tập quán cá nhân

Tập quán ngủ sớm – dậy sớm của người Việt đang chịu ảnh hưởng bởi cách sử dụng thời gian trên Internet. Khảo sát của chúng tôi về thời gian truy cập Internet của người dùng cho thấy, tỷ lệ người dùng có truy cập Internet từ sau 22 giờ đến 24 giờ chiếm tổng cộng 77%, truy cập Internet sau 24 giờ chiếm tổng cộng 50% số người dùng Internet tham gia trả lời khảo sát. Việc truy cập Internet nhiều vào đêm khuya sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến mốc thời gian thức dậy buổi sáng. Tỷ lệ người dùng Internet Việt Nam dưới 30 tuổi có thói quen truy cập Internet thường xuyên sau 22 giờ trong khảo sát của chúng tôi là 78,2%, trong đó 42,8% thường xuyên truy cập Internet sau 24 giờ. Tỷ lệ thời gian hoạt động ban đêm nhiều hơn trên thế giới ảo có thể dần dần sẽ tác động và chuyển đổi chu kỳ ngủ – thức “kiểu chiền chiện” của người Việt trẻ  sang chu kỳ “kiểu cú”. Nhưng xã hội truyền thống Việt Nam về cơ bản vẫn đang theo chu kỳ ngủ – thức “kiểu chiền chiện”. Thực tế này khiến cho những người chịu ảnh hưởng của chu kỳ ngủ – thức “kiểu cú” sẽ gặp khó khăn.

Kiểu làm việc phổ biến trên Internet hiện nay của nhiều người là kiểu làm việc đa nhiệm (multitasking), nhưng là kiểu đa nhiệm đồng thời (concurrent multitasking – CMT), nghĩa là người làm việc trên mạng thường có xu hướng cùng một lúc làm nhiều việc, mà phổ biến nhất là kiểu vừa làm việc – vừa giải trí – vừa giao tiếp.

Lối sống di động là một dấu hiệu nhận diện khá điển hình đối với các “công dân” của xã hội Internet, hậu thuẫn cho sự hình thành những nếp nghĩ mới và thói quen văn hoá kiểu “du cư”, trở thành một trong những nhân tố quan trọng góp phần làm cho tinh thần cá nhân ngày càng phát triển hơn.

4. Biến đổi văn hóa giao tiếp xã hội

Trong bối cảnh mà Internet có thể tạo ra một môi trường kết nối xã hội toàn cầu thì kịch bản các nền văn hoá khác nhau của các cộng đồng, của các dân tộc khác nhau có sự kết hợp với nhau để tạo nên một nền văn hoá chung cũng là một xu hướng tất yếu. Tác nhân quan trọng của quá trình phát triển này cũng là các hoạt động giao tiếp được thực hiện ở quy mô toàn cầu nhờ một số nhân tố kỹ thuật đặc biệt như mạng Internet. Bối cảnh toàn cầu hoá giao tiếp – bối cảnh mà các phương tiện truyền thông mới (new media), đặc biệt là Internet, nổi lên như một tác nhân trọng yếu thúc đẩy sự hình thành một thực tế mới về văn hoá mà đến nay có thể tạm gọi là “văn hoá thế giới” (world culture).

Internet cũng tạo ra một bối cảnh giao tiếp xã hội có nhiều biến đổi so với trước. Lĩnh vực giao tiếp điện tử phát triển vượt bậc, làm thay đổi sâu sắc tập quán giao tiếp của con người. Những mô tả về sự biến đổi này có thể hình dung như sau: 1) Giao tiếp xuyên không gian giữa cá nhân với cá nhân được mở rộng tối đa ; 2) Kết nối giao tiếp giữa cá nhân với cá nhân trở nên dễ dàng hơn rất nhiều ; 3) Giao tiếp nhập vai (in-role communication) đã tạo điều kiện cho các cá nhân có thể có những trải nghiệm mô phỏng đời thực ; 4) Giao tiếp ẩn danh (anonymous) được hậu thuẫn bởi môi trường Internet, trở thành một trong những vấn đề về văn hoá giao tiếp qua mạng ; 5) Giao tiếp qua mạng xã hội trở thành một trào lưu mới

5. Một số tập quán mới trong giao tiếp và ứng xử cộng đồng của người Việt trên internet

Kết bạn trên mạng là một trong những xu hướng nổi bật của giao tiếp trên Internet. Sự hậu thuẫn của Internet cho việc phát triển các kết nối giữa cá nhân với cá nhân trên Internet đã dẫn đến một sự thay đổi quan trọng trong nhận thức của người Việt về kết bạn.

Một trong những hành vi xã hội phổ biến trong đời sống mạng hiện nay là hành vi bấm nút Like . Nút bấm này trở thành một công cụ để cộng đồng Internet góp phần xây dựng và ủng hộ những chuẩn mực “dân gian” của xã hội Internet.

6. Ý niệm mới của người Việt về nhà và cứ trú trên internet

Ý niệm về cư trú dường như không chỉ có trong xã hội thực. Nhiều biểu hiện cho thấy ý niệm này cũng hình thành ngay trong xã hội Internet của người Việt. Không phải ngẫu nhiên mà những người tham gia xã hội Internet được gọi là “cư dân mạng” (Internet inhabitant). Tuy nhiên, ý niệm này trong cộng đồng người Việt dường như rõ ràng hơn rất nhiều. “Nhà” là từ ngữ trực tiếp phản ánh ý niệm về cư trú. Khái niệm “nhà” được phát triển trong xã hội Internet với những ý nghĩa gần gũi như trong đời sống thực. Đã có ý niệm về “nhà” trên Internet thì cũng sẽ có ý niệm về “hàng xóm” trên Internet.

7. Mở rộng mối quan hệ trên internet

Giới trẻ hiện nay có xu hướng chấp nhận những mối quan hệ mà họ gọi là “quan hệ gia đình” trên môi trường ảo. Đó là những mối quan hệ không liên quan đến huyết thống, mà liên quan đến mức độ cố kết xã hội và chia sẻ cá nhân giữa họ với ai đó trên môi trường giao tiếp Internet. Những kiểu quan hệ gia đình trên môi trường ảo thật ra chỉ là một kiểu quan hệ có tính ước định mà nhiều người xác lập để chuyển tải những mức độ chia sẻ cá nhân với nhau mà thôi. Những mối quan hệ kiểu này cũng dễ thay đổi. Nó là kiểu ánh xạ của các mối quan hệ bạn bè giữa người này với người kia ở trên mức bạn thân tại thời điểm nào đó. Đây là một hiện tượng mới phát sinh những năm gần đây.

8. Sự thoát ly của trẻ vị thành niên khỏi gia đình qua “cánh cổng” Internet

Có những dấu hiệu rõ ràng về phương diện xã hội cho thấy, hiện tượng trẻ em, đặc biệt là lứa tuổi teen, thông qua “cánh cổng” Internet, đang thoát ra khỏi sự kiểm soát và che chở của người lớn để bước vào một cuộc sống tự lập trên mạng, trong khi ngoài đời thực, nhiều người trong số họ vẫn là những đứa trẻ muốn kéo dài tuổi thơ để tận hưởng hiệu ứng “gấu bông”.

Máy tính ngày càng rẻ, kết nối Internet dễ dàng và điều kiện kinh tế được cải thiện đã đem đến cho trẻ vị thành niên cơ hội Internet phòng riêng. Với Internet phòng riêng, giới trẻ có nhiều điều kiện hơn để thâm nhập sâu vào xã hội Internet, tự trải nghiệm nhiều chủ đề thông tin, nhiều hoạt động giao tiếp, nhất là giao tiếp với người lạ, mà người lớn xem là nhạy cảm và có xu hướng muốn ngăn cấm.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.