Xây dựng và quản lý danh mục đầu tư

BlogChiến lược đầu tư

Gần 10 năm qua, thị trường chứng khoán Việt Nam có sự phát triển vượt bậc, đã tạo cơ hội lớn cho các nhà đầu tư cá nhân. Mặc dù được đánh giá là một thị trường sơ cấp những TTCK đang dần trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống kinh tế xã hội. 

Đầu tư nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng luôn tồn tại 2 mặt lợi nhuận và rủi ro. Nhưng có thể nói, các nhà đầu tư đang gặp khó khăn do thị trường đang ngày càng khắc nghiệt. Do các yêu cầu về kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng phân tích đánh giá, kỹ năng quản lý đầu tư hay có thể nói là khả năng xây dựng kế hoạch đầu tư, kế hoạch tài chính cá nhân. Điều này có thể thực hiện thông qua các dịch vụ tài chính chuyên nghiệp, đặc biệt là dịch vụ quản lý danh mục đầu tư. 

I. Khái niệm về danh mục đầu tư

Danh mục đầu tư là sự kết hợp nắm giữ các loại cổ phiếu (cổ phần), hàng hóa, bất động sản, các cộng cu tương đương với tiền mặt hay các loại tài sản khác bởi một cá nhân hay một nhà đầu tư thuộc tổ chức. Mục đích của danh mục đầu tư là làm giảm rủi ro bằng cách đa dạng hóa đầu tư. 

Như vậy, danh mục đầu tư đơn giản là tập hợp một hoặc nhiều loại tài sản đầu tư khác nhau, được nhà đầu tư nhắm giữ với mục đích đầu tư. Ngược lại, tài sản tiêu dùng là các tài sản được nắm giữ với mục đích tiêu dùng như xe cộ, quần áo, thiết bị gia đình…

Sự phát triển của thị trường tài chính đã tạo ra nhiều loại tài sản tài chính và công cụ đầu tư phong phú đa dạng. Đồng thời, các lý thuyết đầu tư hiện đại và nhiều bằng chứng thực nghiệm đã cho thấy hiệu ứng rõ ràng của việc giảm thiểu rủi ro thông qua việc đa dạng hóa danh mục đầu tư. 

II. Các loại tài sản trong danh mục đầu tư

Theo cách phân loại của CFA Institue, các loại tài sản đầu tư chủ yếu thường được nắm giữ bởi các nhà đầu tư bao gồm: 

1. Cổ phiếu (cổ phần)

  • Cổ phiếu nội địa, trong cổ phiếu nội địa bao gồm

Cổ phiếu (cổ phần) các công ty lớn

Cổ phiếu (cổ phần) các công ty nhỏ 

  • Cổ phiếu quốc tế, trong cổ phiếu quốc tế bao gồm 

Cổ phiếu trên thị trường các nước phát triển 

Cổ phiếu trên thị trường các nước mới nổi 

2. Các công cụ đầu tư có lợi suất cố định 

  • Cổ phiếu ưu đãi 
  • Trái phiếu 
  • Các công cụ có nguồn gốc từ các tài sản được chứng khoán hóa: Phổ biến nhất là chứng khoán có nguồn gốc từ các khoản vay BĐS – Quỹ đầu tư bất động sản. 
  • Các công cụ thị trường tiền tệ: Tín phiếu kho bạc, chứng chỉ gửi tiền, thương phiếu…

3. Các công cụ tài chính phái sinh 

Công cụ tài chính phái sinh bao gồm: Hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai, hợp đồng quyền chọn, hợp đồng hoán đổi. 

4. Các hình thức đầu tư khác

Có thể kể tới bất động sản, vốn cổ phần riêng lẻ, vốn đầu tư mạo hiểm, quỹ phòng hộ, các loại hàng hóa, ngoại tệ…

Việc lựa chọn nắm giữ các loại tài sản đầu tư khác nhau, với các tỷ trọng khác nhau tùy thuộc vào mục tiêu đầu tư cụ thể của từng nhà đầu tư. 

III. Quy trình xây dựng và quản lý danh mục đầu tư 

Mỗi nhà đầu tư có thể có những các thức và quy trình đầu tư khác nhau, tùy thuộc vào quan điểm hay thế mạnh của bản thân. Nhưng nhìn chung đối với những nhà đầu tư chuyên nghiệp, quy trình xây dựng và quản lý danh mục đầu tư thường trải qua các công đoạn sau:

1. Mục tiêu đầu tư

Đây là khâu đầu tiên của một quá trình, đóng vai trò cơ sở đối với hiệu quả đầu tư của bản thân. Mục tiêu đầu tư thường đề cập tới 3 yếu tố cơ bản như: Lợi nhuận, mức độ rủi ro và thời hạn thu hồi vốn. Ngoài ra, mục tiêu đầu tư còn liên quan tới những hạn chế hay những ưu tiên trong hoạt động đầu tư. 

2. Yếu tố lợi nhuận 

Lợi nhuận mục tiêu cần được xác định một cách cụ thể và có căn cứ rõ ràng. Lợi nhuận sẽ phụ thuộc vào môi trường đầu tư, những dự báo về xu hướng thay đổi của môi trường đầu tư. Môi trường đầu tư thuận lợi cho phép các nhà quản trị đặt mục tiêu lợi nhuận cao và ngược lại. Nhà đầu tư cá nhân thường theo đuổi các mục tiêu đầu tư cơ bản 

  • Mục tiêu tăng trưởng vốn: Với mục tiêu danh mục đầu tư gia tăng giá trị thực trong khoảng thời gian nhất định. Trong chiến lược này, sự tăng trưởng thường có được chủ yếu từ sự tăng giá của các tài sản đầu tư trong danh mục đầu tư. 
  • Mục tiêu thu nhập thường xuyên: Nhà đầu tư mong muốn danh mục đầu tư phải tạo ra những khoản thu nhập đều đặn định kỳ. Sự tăng trưởng vốn trong tương lai là thứ yếu. Mục tiêu này thường phù hợp với các nhà đầu tư mong muốn có thêm các khoản thu nhập từ danh mục đầu tư phục vụ cho chi phí sinh hoạt. 
  • Mục tiêu bảo toàn vốn: Nhà đầu tư mong muốn tối thiểu hóa về mặt rủi ro. Nhà đầu tư muốn duy trì giá trị thực của khoản đầu tư, nói cách khác thu nhập từ khoản đầu tư cần phải lớn hơn lạm phát. Mục tiêu này phù hợp với những nhà đầu tư ngại rủi ro. 

3. Mức độ chấp nhận rủi ro

Đối với nhà đầu tư cá nhân, mức độ chấp nhận rủi ro phụ thuộc vào: Độ tuổi, giới tính, thu nhập, học vấn, kinh nghiệm, cá tính, tố chất tâm lý… Thông thường các nhà đầu tư được chia làm 3 nhóm:

  • Nhà đầu tư liều lĩnh: Là nhà đầu tư sẵn sàng chấp nhận rủi ro thua lỗ một phần vốn đầu tư để tìm kiếm mức lợi nhuận tiềm năng cao hơn. 
  • Nhà đầu tư bảo thủ: Là nhà đầu tư có mức độ chấp nhận rủi ro thấp. Bảo toàn vốn luôn là ưu tiên hàng đầu. 
  • Nhà đầu tư trung dung: Là nhà đầu tư sẵn sàng chấp nhận mức độ rủi ro nhất định để có mức lợi nhuận cao hơn. Nhà đầu tư trung dung thuộc nhóm cân bằng giữ nhà đầu tư bảo thủ và liều lĩnh. 

a. Thời hạn thu hồi vốn 

Thời hạn thu hồi vốn là quãng thời gian đầu tư mà nhà đầu tư sẵn sàng chấp nhận để đạt được mục tiêu đầu tư. Mỗi tài sản đầu tư sẽ có mức thanh khoản và thời hạn thu hồi vốn khác nhau. Chính vì thế mà mỗi nhà đầu tư cũng sẽ có các yêu cầu về thu hồi vốn khác nhau. 

Việc xác định thời hạn đầu tư đóng vai trò quan trọng bởi vì liên quan tới tính thanh khoán và lợi nhuận của danh mục đầu tư. Có sự đánh đổi giữa khả năng thanh khoản và khả năng sinh lợi. 

b. Chính sách phân bổ tài sản

Loại tài sản là tập hợp của các tài sản đầu tư có đặc tính và mối quan hệ lợi nhuận và rủi ro tương quan lẫn nhau. Quyết định phân bổ tài sản không phải là quyết định đơn lẻ, mà phụ thuộc rất nhiều vào mục tiêu đầu tư. 

Loại tài sản như trái phiếu, cổ phiếu… Trái phiếu có thể chia nhỏ thành: trái phiếu chính phủ và trái phiếu doanh nghiệp. Trái phiếu doanh nghiệp được chia theo mức độ tín nhiệm của doanh nghiệp. Cổ phiếu có thể được chia thành: cổ phiếu niêm yết, cổ phiếu trên thị trường OTC hay nhóm cổ phiếu có vốn hóa lớn và cổ phiếu có vốn hóa nhỏ. 

4. Lựa chọn chiến lược quản lý danh mục đầu tư

Lựa chọn chiến lược đầu tư là một khâu quan trọng, là kim chỉ nam hướng dẫn quan trọng khi tiến hành xây dựng danh mục đầu tư và toàn bộ quá trình điều chỉnh danh mục đầu tư sau đó. Hai chiến lược được nhắc phổ biến nhất là quản lý danh mục đầu tư chủ động và chiến lược quản lý DMĐT bị động, hay sự phối hợp giữa hai chiến lược này. 

Chiến lược quản lý danh mục đầu tư thụ động

Chiến lược này được hiểu một cách đơn giản là chiến lược mua và nắm giữ. Nhà đầu tư sẽ mua và nắm giữ tài sản trong thời gian dài và gần như không tiến hành điều chỉnh danh mục đầu tư. Chiến lược thụ động được cổ vũ bởi lý thuyết thị trường hiệu quả, giá cả là cách phản ánh giá trị của tài sản. Thị trường luôn có một cơ chế tự đào thải, tự định giá và không tồn tại tài sản bị định giá sai. Do vậy, không cần phải bỏ công tìm kiếm các tài sản đang bị định giá sai và mua bán tài sản một cách chủ động. 

Chiến lược quản lý danh mục đầu tư chủ động

Ngược lại so với chiến lược đầu tư thụ động, chiến lược đầu tư chủ động sử dụng các chỉ số kinh tế, tài chính… để dự báo về thị trường và định giá tài sản. Từ đó nhà đầu tư đưa ra các quyết định mua bán một cách chủ động để kiếm lợi nhuận cao hơn so với việc chỉ mua và nắm giữ. 

Tuy nhiên để hiểu một cách hệ thống về các chiến lược quản lý đầu tư, ta cần xem xét tới là thu nhập và rủi ro (vd: cổ phiếu). Thu nhập hay rủi ro của chứng khoán có thể chịu tác động của 3 nhân tố: 1. Tác động của toàn bộ thị trường, 2. Yếu tố nhóm cổ phiếu/nhóm ngành, 3. Yếu tố đặc thù của cổ phiếu. 

5. Lựa chọn chứng khoán 

Đây là công đoạn yêu cầu nhiều kỹ thuật, phương pháp và chiến lược khác để lựa chọn cổ phiếu vào danh mục đầu tư. Đây là công việc mang tính chất liên tục, nhà đầu tư không chỉ thực hiện lựa chọn một lần duy nhất mà cần thường xuyên điều chỉnh danh mục để phù hợp với sự biến động của thị trường. 

Các phương pháp lựa chọn cổ phiếu

  • Phân tích cơ bản: Phân tích các yếu tố nền kinh tế, ngành và điều kiện cụ thể của công ty để đánh giá nội tại của cổ phiếu. Các nhà phân tích tin rằng, trong ngắn hạn giá cổ phiếu có thể biến động cao hay thấp hơn giá trị nội tại, nhưng trong dài hạn thị trường sẽ tự điều chỉnh giá cổ phiếu về sát với giá nội tại của công ty. 
  • Phân tích kỹ thuật: Là việc ghi chép giao dịch và biến động giá của cổ phiếu trên đồ thị. PTKT tập trung xem xét yếu tố về giá và khối lượng giao dịch quá khứ để dự báo xu hướng trong tương lai. 

Trong phân tích đầu tư, nhà đầu tư có thể lựa chọn phương pháp phân tích cơ bản, phân tích kỹ thuật hoặc kết hợp cả hai để tối đa hóa các quyết định đầu tư của bản thân. 

6. Các phương pháp lựa chọn trái phiếu

Về nguyên tắc cũng như các loại tài sản chính khác, trái phiếu cũng tồn tại các rủi ro mà nhà đầu tư cần phân tích tơi như rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất, rủi ro tái đầu tư, rủi ro đường cong lãi suất… (Bạn có thể nhìn trực tiếp vào hình thức gửi ngân hàng và làm phương pháp so sánh ngang bằng). 

7. Lựa chọn tài sản khác

Ngoài trái phiếu và cổ phiếu thì nhà đầu tư có thể tìm hiểu thêm về thị trường tiền tệ, vốn đầu tư mạo hiểm, bất động sản… Mỗi loại hình thức đầu tư này đều có những phương pháp phân tích đặc thù, thông thường các tổ chức chuyên nghiệp đều có các chuyên gia phân tích được chuyên môn hóa cho mỗi loại hàng hóa hay mỗi hình thức đầu tư. 

8. Đánh giá hiệu quả của danh mục đầu tư

Theo nguyên tắc, hiệu quả của hoạt động đầu tư được đánh giá trên sư tương quan giữa lợi nhuận và rủi ro của danh mục đầu tư. Danh mục đầu tư có tỷ suất lợi nhuận càng cao, chứng tỏ hiệu quả hoạt động càng tốt. Tuy nhiên, nếu rủi ro của danh mục càng lớn chứng tỏ danh mục hoạt động càng kém hiệu quả. Kết quả hoạt động của danh mục đầu tư cũng cần phải được so sánh với mặt bằng lãi suất và tỷ suất sinh lời bình quân của thị trường. Các yếu tố dùng để đánh giá hiệu quả thông thường sẽ bao gồm: tỷ suất sinh lợi thực tế của danh mục đầu tư, các hệ số đo lường rủi ro của danh mục đầu tư, tỷ suất sinh lời bình quân của thị trường, lãi suất phi rủi ro…

Các phương pháp thường được sử dụng để đánh giá hiệu quả danh mục đầu tư như: phương pháp Sharpe, phương pháp Treynor và phương pháp Jensen. 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.